Nơi lưu giữ kỷ niệm học trò và giao lưu, tản mạn... cùng bạn bè gần xa
Không bao giờ quá sớm để kết bạn và quá muộn để yêu (Sandy Wilson)

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

Lại một mùa khai trường...- ST

Lại một mùa khai trường...

       Mùa thu là mùa của khai trường. Đã bao mùa thu qua đi, vẫn còn khắc ghi trong tôi đoạn văn thật nhẹ nhàng, dễ thương, đầy cảm xúc như một bài thơ của Thanh Tịnh: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường....”. Đó là buổi tựu trường đầu tiên của cuộc đời học sinh- cho ta cảm giác khó tả tồn tại mãi với thời gian và trào dâng mỗi độ tháng chín khai trường...

TÔI ĐI HỌC
                                    (THANH TỊNH- tập truyện ngắn QUÊ MẸ, 1941)

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

         Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.


          Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

          Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

          Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa.

          Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.

          Dọc đường tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng chì ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước o sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.

          Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi:

           - Mẹ đưa bút thước cho con cầm.

          Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm:

           - Thôi để mẹ nắm cũng được.

          Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước.

         Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.

        Trước sân trường làng Mỹ Lý đầy đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.

Học trò xưa. Pleiku phố núi và bạn bè

Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần.

         Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng.

         Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ.

        Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bở ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nữa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.

        Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Chung quanh những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp.

        Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đứng lên trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ:

        - Thế là các em đã vào lớp năm. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa? (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ rang của phụ huynh đáp lại).

         Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút giây này chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn.

        Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói:

        - Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học.

         Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cáng tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi.

        Ông đốc nhẫn nại chờ chúng tôi.

          - Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai các em lại được nghỉ cả ngày nữa.

Học trò xưa. Pleiku phố núi và bạn bè

 Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ, đang đón chúng tôi vào cửa lớp. Trong thời thơ ấu tôi chưa bao giờ xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ vì có nhũng hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết.

         Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.

        Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.

         Nhưng những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc:

        Bài tập viết: Tôi đi học!


Đọc thêm:

Thanh Tịnh tên thật là Trần Văn Ninh, sinh tại Phú Vang, Huế. Năm 1933, tốt nghiệp Thành Chung, ông làm viên chức nhỏ tại Huế, vừa viết văn, viết báo, vừa làm thơ.
Trước năm 1945, đã xuất bản: "Hận chiến truờng" (thơ, 1937); các tập truyện ngắn: "Quê mẹ" (1941), "Chị và em" (1942), "Ngậm ngải tìm trầm" (1943); tiểu thuyết "Xuân và Sinh" (1944).
Sau Cách mạng tháng Tám, lúc đầu công tác văn hóa văn nghệ ở liên khu IV; gia nhập Quân đội năm 1948; nhiều năm công tác tại "Tạp chí Văn nghệ Quân đội". Ông mất tại Hà Nội, ngày 17.7.1988, để lại một số tác phẩm: "Những giọt nước biển" (truyện ngắn 1956), "Đi từ giữa một mùa sen" (thơ 1973).
Thanh Tịnh có một lối viết nhẹ nhàng, trong sáng, thiết tha và êm dịu. Mỗi truyện ngắn đều thấm đẫm chất thơ; mỗi bài thơ lại có cấu trúc như một truyện ngắn. Nhà văn Thạch Lam từng có nhận xét về phong cách nghệ thuật của Thanh Tịnh như sau: "Truyện ngắn nào hay cũng có chất thơ, và bài thơ nào hay cũng có cốt truyện".Nhiều truyện ngắn của ông mang đầy phong vị Huế và tạo riêng cho ông một thi pháp văn xuôi độc đáo. Là một nhà thơ lãng mạn, Thanh Tịnh đã mang vào truyện ngắn chất trữ tình sâu lắng, từng trang viết của ông thấm đượm hương vị làng quê, một làng quê miền Trung với những vẻ đẹp thanh bình, êm ả nhưng cũng không hiếm những cảnh đời khổ đau, ngang trái.
Trước năm 1945, người ta xếp Thanh Tịnh, Thạch Lam và Hồ Dzếnh là 3 nhà văn có phong cách nghệ thuật gần gũi nhau. Vì thế, sau ngày Thanh Tịnh qua đời, nhà văn Hồ Dzếnh có làm bài thơ "Nhớ tiếc Thanh Tịnh"; đây là khổ thơ đầu:
"Đời xếp anh, tôi và Thạch Lam
Ngồi chung một chiếu hội văn đàn
Chao ôi ! Chiếu đã hai lần lạnh !
Còn lại mình tôi với thế gian...".
Các tác phẩm tiêu biểu của Thanh Tịnh được giảng dạy trong nhà trường, có câu thơ được lưu truyền như ca dao, tục ngữ mà nhiều người vẫn nhầm cho là của Chủ tich Hồ Chí Minh:
"Dễ trăm lần không dân cũng chịu,
Khó vạn phần, dân liệu cũng xong".
(sưu tầm)

0 comments          Phố núi và bạn bè
Click tùy chọn để xem và comments nhé, Thanks!
Google Comments
Facebook Comments

    Không có nhận xét nào: